GIẢI ĐÁP THẮC MẮC

Ngày tạo: 04/07/2016 9:40:45 SA - Số lần đọc: 218
1.Hỏi: Đơn vị sự nghiệp sử dụng tiền có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước (NSNN) gửi Ngân hàng thương mại (NHTM) nhằm hưởng lãi suất. Cho hỏi, như vậy có đúng quy định quản lý tiền từ NSNN không? Và số tiền lãi có được từ tiền gửi NHTM đó kế toán ghi sổ kế toán như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Điều 8 - Nguyên tắc quản lý NS và Điều 18 - Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực NSNN (Luật NSNN năm 2015) thì đơn vị không được sử dụng tiền có nguồn gốc từ NS để gửi NHTM nhằm hưởng lãi suất.
Nếu đơn vị đã vi phạm, cần thực hiện các thủ tục rút tiền và gửi vào tài khoản của đơn vị tại Kho bạc Nhà nước, nơi đơn vị giao dịch. Toàn bộ tiền lãi của khoản tiền trên thực hiện thủ tục nộp NSNN. 

2.Hỏi: Theo quy định tại TT số 92/2015/TT- BTC ngày 15/6/2015 thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế là: 
- Đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa hoặc thời điểm lập hóa đơn bán hàng, nếu thời điểm lập hoá đơn trước thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hoá.
- Đối với hoạt động vận tải, cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ, nếu thời điểm lập hoá đơn cung ứng dịch vụ trước thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ.
- Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành.
Tuy nhiên, theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác, thì doanh thu bán hàng được ghi nhận khi thỏa mãn 5 điều kiện và doanh thu cung cấp dịch vụ phải thỏa mãn 4 điều kiện.
Như vậy, khi xác định Thuế GTGT DN phải tuân thủ theo quy định nào? Vì trong thực tế, có trường hợp giao dịch phát sinh phù hợp với chính sách thuế nhưng lại không phù hợp với chính sách kế toán. 

Trả lời: Theo quy định hiện hành thì việc ghi nhận doanh thu trên sổ kế toán phải tuân thủ theo quy định tại Chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác. Khi xác định thuế GTGT phải nộp, phải căn cứ vào quy định của các chính sách thuế có liên quan.
Ví dụ: DN ký hợp đồng cung cấp dịch vụ với khách hàng, khách hàng đồng ý tạm ứng cho 30% giá trị hợp đồng, nhưng yêu cầu phải xuất hóa đơn và DN đã xuất hóa đơn và thu tiền nhưng chưa cung cấp dịch vụ.
Trường hợp này, số tiền nhận tạm ứng của khách hàng DN ghi nhận vào tài khoản khách hàng trả trước (ghi Có TK 131) và vẫn phải kê khai thuế GTGT tương ứng với giá trị hóa đơn và thuế suất phù hợp. Trường hợp này, DN chỉ ghi nhận DT khi thực sự cung cấp dịch vụ được khách hàng nghiệm thu chấp nhận.

3.Hỏi: Luật Lế toán năm 2015 có hiệu lực năm 2017 quy định: Cty TNHH MTV, Cty cổ phần không được phép kinh doanh dịch vụ kế toán và DN tư nhân lại được phép kinh doanh dịch vụ kế toán?

Trả lời: - Theo thông lệ quốc tế, không có loại hình DN kế toán là Cty cổ phần. Cty cổ phần không giới hạn cổ đông là người không có chứng chỉ hành nghề dịch vụ kế toán nên không đảm bảo yêu cầu về sở hữu phải thuộc về người có chứng chỉ hành nghề kế toán để đảm bảo chất lượng dịch vụ.
- Luật Kế toán hiện hành vẫn cho phép Cty TNHH MTV được phép kinh doanh dịch vụ kế toán. Tuy nhiên, Luật Kế toán 2015 chỉ cho phép Cty TNHH từ 2 thành viên trở lên được phép kinh doanh ngành nghề này. 
Theo quy định tại Luật DN 2014 thì “Cty TNHH MTV là DN do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu Cty); chủ sở hữu Cty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Cty trong phạm vi số vốn điều lệ của Cty”. Như vậy, sẽ không thỏa mãn quy định tại Điều 60 - Điều kiện cấp Giấy đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, đó là “Có ít nhất 2 thành viên góp vốn là 2 kế toán viên hành nghề” đối với Cty TNHH 2 TV. 
Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể suy luận về vấn đề  trách nhiệm đền bù rủi ro, Cty TNHH MTV chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của Cty trong phạm vi số vốn điều lệ của Cty,  mà số vốn điều lệ của các loại Cty này thường không lớn. Do đó, nếu có rủi ro xảy ra sẽ khó có khả năng đền bù thiệt hại cho khách hàng và nền kinh tế nói chung. Các nước phát triển để có khả năng đền bù, luật pháp quy định bắt buộc phải mua bảo hiểm nghề nghiệp. Nhưng ở Việt Nam tại thời điểm này chưa có loại hình BH này nên càng khó khăn hơn./.