Bàn về những bất cập của Thông tư 200 và những kiến nghị

Hệ thống thông tin kế toán (TTKT) có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và vi mô, đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực. Vì thế, tổ chức hệ thống TTKT trong các doanh nghiệp (DN) như thế nào có chất lượng phục vụ cho công tác quản lý, cho quá trình ra quyết định là một tất yếu khách quan. Do đó, tổ chức hệ thống TTKT là một nội dung mà hiện nay các DN rất chú trọng và quan tâm. Đặc biệt là, Việt Nam đang từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Với sự phát triển khoa học, công nghệ và thông tin như hiện nay, đòi hỏi việc cung cấp TTKT phải được thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời, chính xác và đáng tin cậy, để phục vụ cho quản lý và việc ra quyết định. Vì vậy, tổ chức hệ thống TTKT trong các DN có chất lượng là một vấn đề rất đáng quan tâm.

Mặt khác, mục đích sử dụng và mức độ nhu cầu thông tin của các đối tượng có thể khác nhau, giữa các nhóm trong và ngoài đơn vị song cũng có những điểm chung nhất định. Những điểm chung về nhu cầu TTKT của các đối tượng sử dụng thông tin bao gồm những thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh (HĐKD) và lưu chuyển tiền của một đơn vị kế toán (ĐVKT) nhất định. Do vậy, họ đều có nhu cầu được cung cấp, đọc và hiểu TTKT phản ánh tình hình kinh tế của đơn vị trên các phương diện: Tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu; Thu nhập, chi phí, kết quả hoạt động; Luồng tiền; Các thông tin chung khác.

Những điểm khác biệt về mục đích sử dụng TTKT của các nhóm đối tượng có ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ nhu cầu thông tin tổng quát, chi tiết và chuyên biệt. Nhu cầu về thông tin dạng tổng quát là nhu cầu chung, chủ yếu thuộc về nhóm đối tượng bên ngoài đơn vị và được thỏa mãn thông qua các báo cáo tài chính (BCTC).

Nhu cầu thông tin dạng chi tiết chủ yếu thuộc về nhóm đối tượng bên trong đơn vị và được thỏa mãn thông qua các báo cáo kế toán chi tiết. Nhu cầu thông tin chuyên biệt chủ yếu thuộc về nhóm đối tượng bên trong đơn vị là các nhà quản lý và được thỏa mãn thông qua hệ thống báo cáo kế toán quản trị (KTQT).

TTKT bao gồm những TTKT tài chính và TTKT quản trị. Nhưng trong bài viết này, chúng tôi đề cập chủ yếu đến TTKT tài chính. Vì TTKT tài chính được rất nhiều đối tượng sử dụng quan tâm.

TTKT tài chính phản ánh một cách tổng quát những thông tin kinh tế tài chính của một đơn vị và nó chủ yếu cần cho mọi đối tượng sử dụng, nó có vai trò rất quan trọng đối với mỗi một đối tượng khi sử dụng để ra quyết định sao cho phù hợp. TTKT tài chính thường được thể hiện dưới các loại sau:

  • Loại thông tin thứ nhất, đối tượng sử dụng cần có để đưa ra quyết định là những thông tin phản ánh tình hình tài chính của ĐVKT. Loại thông tin này được phản ánh trên Bảng cân đối kế toán (CĐKT)- phản ánh tình hình tài chính của ĐVKT, nó liên quan đến nguồn lực kinh tế do ĐVKT kiểm soát, cơ cấu của nguồn lực kinh tế, khả năng đáp ứng của ĐVKT khi môi trường kinh doanh thay đổi, tính thanh khoản và khả năng pá sản của đơn vị. Những thông tin này trợ giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá khả năng của ĐVKT, bao gồm những tài sản khác nhau do ĐVKT kiểm soát, số lượng tiền vay từ những đơn vị khác, giá trị nguồn lực được chủ sở hữu đóng góp, thời gian cần thiết để thanh toán các khoản vay…
  • Loại thông tin thứ hai, đối tượng sử dụng cần có để đưa ra quyết định là những thông tin phản ánh tình hình hoạt động của ĐVKT. Loại thông tin này được phản ánh trên Baó cáo kết quả HĐKD- phản ánh doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động của đơn vị. Khi xem những thông tin này các đối tượng sử dụng thông tin có thể thấy được khả năng sử dụng tài sản của ĐVKT như thế nào? có hiệu quả không, ĐVKT có kết quả HĐKD như thế nào? Để đánh giá được kết quả hoạt động của ĐVKT người sử dụng TTKT phải hiểu được mục tiêu của ĐVKT là gì. Đối với ĐVKT HĐKD, mục tiêu của nó là lợi nhuận và cần thiết phải cung cấp những thông tin để người sử dụng thông tin đánh giá khả năng sinh lời của đơn vị.
  • Loại thông tin thứ ba, các bên sử dụng cần cho việc đưa ra quyết định là những thông tin liên quan đến luồng tiền của ĐVKT. Những thông tin phản ánh luồng tiền vào và luồng tiền ra của ĐVKT trong một thời kỳ nhất định trợ giúp cho các đối tượng sử dụng đánh giá các HĐKD chủ yếu, hoạt động đầu tư, hoạt động tài chính của ĐVKT như thế nào.

Kế toán với đặc điểm cung cấp thông tin một cách liên tục, thường xuyên và có hệ thống tình hình tài chính, tình hình hoạt động và luồng tiền của đơn vị cụ thể. Do vậy, TTKT có vai trò rất quan trọng trong quản lý kinh tế và nó tùy theo từng đối tượng sử dụng, cụ thể:

  • Đối với nhà quản trị DN: Họ sử dụng thông tin về kế toán để xác định mục đích kinh doanh, đề ra các quyết định để thực hiện, đánh giá thực hiện mục tiêu và điều chỉnh, nếu thấy cần thiết, để HĐKD của họ đạt hiệu quả cao hơn; vai trò của kế toán trong việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị là nhằm liên kết các quá trình quản lý với nhau và liên kết DN với môi trường bên ngoài.
  • Đối với chủ sở hữu: Họ quan tâm đến lợi nhuận, lợi tức sinh ra từ vốn kinh doanh, vì đây là căn cứ để họ đưa ra các quyết định cần thiết, bao gồm cả quyết định phân chia lợi nhuận, lợi tức cho họ. Đồng thời, qua việc xem xét thông tin trên báo cáo kế toán họ có thể đánh giá năng lực trách nhiệm của các bộ phận quản lý ở DN là tốt hay xấu.
  • Đối với nhà đầu tư: Họ luôn muốn đầu tư vào nơi nào có tỷ lệ hoàn vốn cao nhất và thời gian ngắn nhất. Do vậy, trước khi đầu tư, họ cần thông tin về tình hình tài chính của DN để qua đó nghiên cứu, phân tích, đánh giá rồi đi đến quyết định có nên đầu tư hay không.
  • Đối với các nhà cho vay và cung cấp hàng hóa dịch vụ: Các ngân hàng, các tổ chức tài chính cũng như các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ, trước khi cho vay hoặc cung cấp hàng hóa, đều có nhu cầu về thông tin khả năng thanh toán của DN như thế nào; nghĩa là DN hay đơn vị đó có đủ khả năng thanh toán hay không, để có thông tin này thì phải có TTKT cung cấp.
  • Đối với cơ quan thuế: Các cơ quan thuế địa phương và trung ương dựa vào tài liệu do kế toán cung cấp để xác định thuế, thuế tiêu thụ đặc biệt và biết được các đơn vị hay các DN có thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước hay không.
  • Đối với Nhà nước: Các cơ quan Nhà nước cần số liệu kế toán của các đơn vị, các DN để tổng hợp cho ngành, địa phương và trên cơ sở đó phân tích, đánh giá, nhằm định ra các chính sách kinh tế thích hợp, để thúc đẩy sản xuất kinh doanh và điều hành kinh tế vĩ mô.

Qua trên, chúng ta thấy TTKT có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong quá trình hội nhập hiện nay nó càng trở nên quan trọng hơn. Thông tin do kế toán cung cấp là thông tin phản hồi về đối tượng quản lý. Nếu không có thông tin này, cả hệ thống quản lý kinh tế sẽ bị đình trệ. Mặt khác, nó có vai trò quan trọng đối với các đối tượng sử dụng khác nhau. Đồng thời, kế toán còn hỗ trợ đắc lực cho các công cụ quản lý khác phát huy tốt nhất tác dụng của chúng. Do đó, để TTKT đảm bảo chất lượng và đảm bảo là nguồn thông tin hữu ích đối với các đối tượng sử dụng, thì TTKT phải đảm bảo được yêu cầu thích hợp, tính tin cậy và có thể so sánh được.

Tính thích hợp được hiểu là khả năng của TTKT để tạo ra sự khác biệt đối với các đối tượng sử dụng TTKT. Nói khác là, tính thích hợp của TTKT trợ giúp cho các đối tượng sử dụng đánh giá điều kiện hiện tại, dự đoán tương lai và đánh giá quá khứ.

Tính tin cậy của TTKT được hiểu là TTKT không bị ràng buộc từ tính thiên vị về bất kỳ một đối tượng sử dụng thông tin nào và phải được trình bày, công bố theo đúng yêu cầu đã đề ra.

Tính có thể so sánh được của TTKT cho phép các đối tượng sử dụng TTKT có thể xác định tính tương đồng và khác biệt giữa hai hoặc nhiều đối tượng cần so sánh. Đối tượng được so sánh có thể là giữa kế hoạch và thực tế, giữa các kỳ thực tế của cùng một ĐVKT, giữa các ĐVKT với các ĐVKT khác trong cùng ngành.

Để đáp ứng được yêu cầu TTKT nêu trên, chúng tôi xin trao đổi và nêu một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng TTKT.

Thứ nhất: Nhà nước ta phải có hướng dẫn chi tiết về những quy định trong chuẩn mực (CM) đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán: Phải đảm bảo tính thống nhất giữa Nghị định của Chính Phủ và CM đạo đức nghề nghiệp.

Thứ hai: Hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) và CM đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán phải phù hợp với thông lệ quốc tế. CMKT quốc tế đã đưa ra các khái niệm, yêu cầu, điều kiện và cả những quan điểm chung về tính minh bạch của BCTC.

Thứ ba, Cần hoàn thiện hệ thống BCTC trên các phương diện: Trình bày thông tin tổng quát và chi tiết đảm bảo tính so sánh và phân tích được, vì hiện nay các BCTC có báo cáo thông tin tổng quát, có báo cáo thông tin chi tiết nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu so sánh, phân tích như thuyết minh BCTC, báo cáo kết quả HĐKD, nên bổ sung báo cáo vốn chủ sở hữu vì đây là thông tin cần thiết để đánh giá nguồn lực tự có của các ĐVKT, các DN, thông tin mà các nhà đầu tư luôn quan tâm.

Thứ tư, Hiện nay, đang có xu hướng xung khắc và mâu thuẫn trong việc áp dụng theo hệ thống văn bản pháp quy của Nhà nước và hệ thống CMKT, do vậy đã làm sai lệch đáng kể thông tin của kế toán dẫn đến tính minh bạch, trung thực, khách quan không được đảm bảo. Thực tế ở Việt Nam có DN thuyết minh chính sách kế toán ghi nhận khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái theo CM số 10 nhưng thực tế lại làm kế toán theo TT 201/2009, văn bản có mâu thuẫn với CM này. Trình trạng phổ biến là thuyết minh thiếu nhiều nội dung theo yêu cầu của CM và chế độ kế toán (Trích http://www.tin moi.vn). Do vậy, theo quan điểm, việc xử lý thông tin và trình bày thông tin trên BCTC phải tuân thủ theo các quy định và hướng dẫn của CMKT. Hệ thống CMKT, kiểm toán phải do Hội nghề nghiệp kế toán, kiểm toán soạn thảo, hoàn thiện và ban hành phù hợp với thông lệ quốc tế. Các văn bản pháp luật về kinh tế tài chính phải do Nhà nước ban hành, là hệ thống các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế tài chính trong nền kinh tế quốc dân.

Thứ năm, Trong giảng dạy khoa học kế toán nói chung, cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc và CMKT đã được thừa nhận vì đây là cơ sở nền tảng để giải thích, phân tích và chứng minh các mối liên hệ trong quá trình thu thập, xử lý, trình bày và cung cấp thông tin của kế toán. Từ đó, TTKT mới đạt được yêu cầu: Thích hợp, tin cậy và tính có thể so sánh được.

Tóm lại: Để đáp ứng TTKT thực sự được minh bạch, trung thực, khách quan và có chất lượng trong quá trình hội nhập thì nhất thiết phải tuân thủ theo hệ thống CMKT, CM kiểm toán đã ban hành và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tất cả thông tin định lượng và định tính của kế toán, kiểm toán đều do con người xử lý và cung cấp thông tin trong quá trình hành nghề. Do vậy, thông tin đó có khách quan, trung thực, minh bạch hay không, phụ thuộc rất nhiều vào đạo đức nghề nghiệp của người làm kế toán, kiểm toán, phụ thuộc vào sức ép về lợi ích của chủ DN. Chính vì vậy, hoàn thiện và hướng dẫn chi tiết thực hiện CM đạo đức nghề nghiệp kế toán và kiểm toán là hết sức cần thiết trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta./.

TS. Trần Hải Long

Đại học Thương mại

Tài liệu tham khảo

Ngày 22/12/2014, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 200/2014/TT – BTC, hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp (DN), Thông tư này thay thế Chế độ kế toán DN ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ- BTC và Thông tư số 244/2009/TT- BTC. Tuy nhiên, có một số vấn đề còn bất cập khi áp dụng thông tư vào thực tiễn công tác tài chính kế toán của các DN ở Việt Nam hiện nay.

Thông tư 200 (TT200) thay đổi một số điểm chính sau:

  • Về đơn vị tiền tệ ghi sổ: Các DN có nghiệp vụ thu, chi chủ yếu bằng ngoại tệ, đáp ứng đủ các tiêu chuẩn được quy định tại Thông tư này sẽ được chọn một loại ngoại tệ làm đơn vị tiền tệ để ghi sổ kế toán. DN sử dụng ngoại tệ làm đơn vị tiền tệ trong kế toán thì đồng thời lập BCTC theo ngoại tệ thì còn phải chuyển đổi BCTC sang Đồng Việt Nam.
  • Về TK kế toán: Các TK Tài sản không phân biệt ngắn hạn và dài hạn đồng thời bỏ, thêm, thay đổi một số TK.
  • Về Sổ kế toán: Các DN không bắt buộc phải áp dụng mẫu sổ kế toán mà được tự thiết kế, xây dựng riêng phù hợp với yêu cầu quản lý và đặc điểm hoạt động của mình. Nhưng phải đảm bảo cung cấp thông tin về giao dịch kinh tế một cách minh bạch, đầy đủ.
  • Về Chứng từ kế toán: Tất cả các loại chứng từ đều mang tính hướng dẫn. DN được chủ động xây dựng, thiết kế biểu mẫu chứng từ kế toán nhưng phải đáp ứng được các yêu cầu của Luật Kế toán và đảm bảo rõ ràng, minh bạch.
  • Về Báo cáo tài chính (BCTC): Bổ sung, sửa đổi nhiều chỉ tiêu của BCĐKT; Bổ sung chỉ tiêu Lãi suy giảm trên cổ phiếu của BCKQKD; Bổ sung sửa đổi một số chỉ tiêu của BCLCTT. Phần thuyết minh BCTC hầu như mới toàn bộ, xây dựng trên nguyên tắc minh bạch, công khai, linh hoạt.

Một số hạn chế và kiến nghị

Về cơ bản, TT200 được đánh giá là tiếp cận gần hơn các chuẩn mực quốc tế và bổ sung các nghiệp vụ kinh tế chưa được đề cập trong các quy định trước đây, nhằm giảm thiểu những tranh luận và xử lý kế toán không nhất quán tại các DN, góp phần nâng cao tính minh bạch và sự chuẩn mực khi lập BCTC của DN. Tuy nhiên, Thông tư vẫn còn một số hạn chế nhất định. Cụ thể:

  1. Về thời gian thực hiện

Thời hạn áp dụng TT200 quá gấp. Thông tư được ban hành vào cuối tháng 12/2014 với nhiều điểm mới nhưng chế độ kế toán được áp dụng ngay từ quý I/2015. Trong thời gian này, các DN phải tập trung vào việc lập BCTC năm 2014 và làm việc với kiểm toán, không có nhiều thời gian cho việc cập nhật các chính sách, chế độ mới.

Ngày 18/05/2015 Bộ Tài chính đã ban hành TT75/2015/TT- BTC sửa đổi bổ sung Điều 128 TT200/2014/TT- BTC. Theo đó, DN thuộc đối tượng phải lập BCTC giữa niên độ (BCTC quý và BCTC bán niên) được lựa chọn lập BCTC giữa niên độ năm 2015 theo quy định tại Quyết định 15/2006/QĐ-BTC hoặc theo quy định, tại TT200/2014/TT- BTC. Tuy nhiên, BCTC năm vẫn phải nộp theo mẫu của TT200. Như vậy, đối với các DN chưa kịp sửa đổi theo TT200 và lập BCTC giữa niên độ theo QĐ15, kế toán sẽ gặp khó khăn trong việc sửa đổi toàn bộ hệ thống sổ vào cuối năm.

Hầu hết các DN hiện nay sử dụng phần mềm kế toán cho việc hạch toán kế toán nên sẽ gặp khó khăn trong việc cập nhật, nâng cấp hệ thống tài khoản mẫu báo cáo theo quy định mới của TT200.

Đối với việc giảng dạy, học tập bộ môn kế toán trong các cơ sở đào tạo cũng gặp nhiều khó khăn: giáo trình, bài giảng,…

Kiến nghị:

  • Đối với các DN: DN đã sửa đổi hệ thống tài khoản, sổ sách kế toán và BCTC theo mẫu quy định của TT200 thì vẫn áp dụng thời gian nộp BCTC năm theo quy định của các cơ quan chức năng. Đối với DN chưa kịp sửa đổi, các cơ quan chức năng vẫn chấp nhận BCTC năm theo mẫu của QĐ15 và gia hạn thêm thời gian 60 ngày để DN nộp BCTC bổ sung theo mẫu của TT200.
  • Đối với các cơ sở đào tạo: Bố trí thời gian dạy bổ sung hoặc tổ chức các buổi hội thảo để sinh viên cập nhật các điểm mới của TT200. Đồng thời, sửa đổi, hoàn thiện hệ thống slide bài giảng, giáo trình cho phù hợp.
  1. Tỷ giá ngoại tệ
  • Ghi nhận giá trị hàng tồn kho (HTK), TSCĐ, xây dựng cơ bản (XDCB) trong trường hợp ứng trước cho người bán bằng ngoại tệ.

Theo quy định của TT200, giá trị HTK, TSCĐ, đầu tư XDCB phải căn cứ vào tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh để ghi nhận (trừ phần ứng trước tiền cho người bán hoặc nhà thầu thì giá trị HTK, TSCĐ, đầu tư XDCB được ghi nhận theo tỷ giá tại thời điểm ứng trước).

Như vậy, giá trị HTK, TSCĐ, đầu tư XDCB trong trường hợp này không phản ánh đúng giá trị thực tế của nó tại thời điểm mua đối với HTK, TSCĐ và tại thời điểm ghi nhận đối với khoản đầu tư XDCB.

Ví dụ: Ngày 15/02/2015, khách hàng A mua hàng của Cty B trị giá 2.000USD. Cũng tại ngày này, A ứng trước cho B 1.000USD. Tỷ giá xuất quỹ là 21.500VND/USD. Ngày 01/03/2015, A nhận được hàng và hóa đơn thanh toán (tỷ giá thực tế tại ngày này là 21.700VND/USD). Đồng thời, thanh toán nốt số tiền còn lại, tỷ giá xuất quỹ là 22.000VND/USD.

Theo quy định tại TT200, kế toán Cty A sẽ hạch toán nghiệp vụ trên như sau:

  1. Khi ứng trước cho B 1.000 USD (tại ngày 15/02/2015)

Nợ TK 331(ct B): 21.500.000 VND/Có TK 112: 21.500.000 VND

  1. Khi nhận được hàng hóa, đồng thời thanh toán nốt số tiền còn lại (tại ngày 01/03/2015)
  • Nợ TK 156: 21.500.000 VNĐ (quy đổi theo tỷ giá tại ngày ứng trước)/Có TK 331: 21.500.000 VNĐ
  • Nợ TK 156: 21.700.000 VNĐ (theo tỷ giá thực tế)

Nợ TK 635: 300.000 VNĐ

        Có TK 112: 22.000.000 VNĐ (theo tỷ giá xuất quỹ).

Kiến nghị: Để phù hợp với nguyên tắc giá gốc và giá trị trên hóa đơn phải trả cho người bán thì giá trị HTK, TSCĐ, chi phí XDCB trong trường hợp ứng trước tiền cho người bán (hoặc nhà thầu) bằng ngoại tệ, đều phải ghi nhận theo tỷ giá thực tế tại thời điểm nhận được HTK, TSCĐ hoặc thời điểm ghi nhận chi phí XDCB.

  • Nếu tỷ giá thực tế tại thời điểm nhận được chúng cao hơn tỷ giá thực tế tại thời điểm ứng trước, hạch toán bổ sung: Nợ TK 152, 153, 156, 211, 241/Có TK 331 (chênh lệch giữa giá trị tính theo tỷ giá thực tế nhận hàng và tỷ giá thực tế ứng trước).
  • Nếu tỷ giá thực tế tại thời điểm nhận được chúng thấp hơn tỷ giá thực tế tại thời điểm ứng trước, hạch toán bổ sung: Nợ TK 331/Có TK152, 153, 156, 211, 241 (chênh lệch giữa giá trị tính theo tỷ giá thực tế nhận hàng và tỷ giá thực tế ứng trước).

Tiếp tục ví dụ trên, định khoản bổ sung phần chênh lệch giá trị hàng hóa do tỷ giá tại ngày ứng trước và ngày nhận hàng.

Nợ TK 156: 200.000 VNĐ/Có TK 331: 200.000 VNĐ

  1. Bán hàng khuyến mại trả sau mà việc trả thưởng khuyến mại bằng các hàng mua từ bên ngoài mà DN không bán nó trong hoạt động kinh doanh thông thường
  • TT200 ghi nhận

Tại thời điểm bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ trong chương trình dành cho khách hàng truyền thống, kế toán ghi nhận doanh thu trên cơ sở tổng số tiền thu được trừ đi phần doanh thu chưa thực hiện là giá trị hợp lý của hàng hóa, dịch vụ cung cấp miễn phí. Giá trị của hàng hóa, dịch vụ phải cung cấp miễn phí cho người mua được ghi nhận là doanh thu chưa thực hiện.

Khi khách hàng đáp ứng đủ các điều kiện của chương trình để được hưởng ưu đãi, khoản doanh thu chưa thực hiện được kết chuyển sang ghi nhận là doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ tại thời điểm thực hiện xong nghĩa vụ với khách hàng. Nếu hết thời hạn của chương trình mà người mua không đạt đủ điều kiện theo quy định và không được hưởng hàng dịch vụ miễn phí, khoản doanh thu chưa thực hiện cũng được kết chuyển vào doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ.

Ví dụ: Trong phần thứ năm, mục X (cuốn 2 của Vụ chế độ kế toán) có ví dụ minh họa về kế toán doanh thu, hướng dẫn trường hợp Vietnam Airline (VNA) bán vé máy bay có khuyến mại, cứ 18 chuyến bay khứ hồi sẽ được 1 chuyến bay miễn phí hoặc 1 đêm ở Vinpear Nhatrang (VINP).

Cung cấp dịch vụ cho khách hàng, kế toán ghi nhận doanh thu bán vé máy bay cho khách hàng trừ đi phần doanh thu chưa thực hiện là giá trị hợp lý của hàng hóa, dịch vụ mà VNA có nghĩa vụ cung cấp miễn phí cho khách hàng, ghi:

Nợ TK 112: 6.593.400

        Có TK 511: 5.716.000

        Có TK 3387: 278.000

        Có TK 3331: 599.400

Tổng doanh thu ghi nhận trong kỳ:Nợ TK 112: 113.676.000

        Có TK 511: 102.888.000

        Có TK 3387: 5.000.000

        Có TK 3331: 10.788.000

Khi khách hàng đủ điều kiện nhận thưởng, VNA trả bằng chuyến đi nghỉ mát ở VINP mà VNA không phải là đại lý của VINP, lúc đó VNA ghi nhận doanh thu 1 đêm nghỉ mát tại VINP.

Nợ TK 3387: 5.000.000/Có TK 511: 5.000.000

Đồng thời, phản ánh số tiền phải thanh toán cho bên thứ 3 (VINP, giả định là 3,5 triệu đ) vào giá vốn hàng bán, cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Nợ TK 632: 3.500.000/Có TK 112: 3.500.000

  • Một số vấn đề đặt ra
  • TT 200 yêu cầu “Kế toán doanh thu phải nhận biết các giao dịch để áp dụng các điều kiện ghi nhận doanh thu phù hợp với quy định của Chuẩn mực Kế toán doanh thu (VAS 14)”. VAS 14 định nghĩa “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Như vậy, rõ ràng là việc tặng hàng khuyến mại mà những hàng này không phải là các mặt hàng được bán trong quá trình kinh doanh thông thường, không thể được ghi nhận và báo cáo là doanh thu.

Theo hướng dẫn của TT 200 như ở ví dụ trên, mặc dù kinh doanh khu nghỉ mát không phải là hoạt động kinh doanh thông thường của VNA, nhưng trong BCTC của VNA lại có doanh thu nghỉ mát.

  • Các hướng dẫn trình bày ở trên là trong phần hướng dẫn tài khoản 511- Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của TT 200, nó mâu thuẫn với quy định trong hướng dẫn tài khoản 131- Phải thu của khách hàng (cũng của TT 200).

Trong hướng dẫn TK 131, phần 3, đoạn b) ghi rõ: Trường hợp trên hóa đơn bán hàng chưa thể hiện số tiền chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán do khách hàng chưa đủ điều kiện để được hưởng hoặc chưa xác định được số phải chiết khấu, giảm giá thì doanh thu ghi nhận theo giá chưa trừ chiết khấu (tức doanh thu gộp).

  • Theo đoạn hướng dẫn ghi nhận doanh thu của TT 200, việc ghi nhận doanh thu chưa thực hiện, doanh thu thuần được ghi trong từng giao dịch riêng rẽ, từng khách hàng. Do vậy, nó sẽ tăng khối lượng công việc kế toán rất nhiều mà vẫn không có được thông tin doanh thu gộp rất cần thiết trong quản trị.

Kiến nghị: Hoạt động khuyến mại này là hoạt động không thường xuyên và không nằm trong ngành nghề kinh doanh mà DN đã đăng ký. Do vậy, hết chương trình khuyến mại nên ghi nhận

Nợ TK 3387/Có TK 711

Nợ TK 811/Có TK 112,331

  1. Bán hàng khuyến mại trả ngay bằng hàng mua từ bên ngoài mà DN không bán hàng đó trong các hoạt động kinh doanh thông thường.

Theo TT 200: Tình huống này cũng được hướng dẫn phải phân bổ giá trị hợp lý của hàng khuyến mại để ghi nhận doanh thu cho hàng khuyến mại và đồng thời ghi giảm doanh thu cho hàng bán có kèm hàng khuyến mại.

Giống như phân tích ở trên, theo định nghĩa doanh thu của VAS 14, giá trị hàng tặng này không phải là hàng trong quá trình kinh doanh thông thường nên nó không thể được ghi nhận là doanh thu. Do vậy, doanh thu hàng bán có khuyến mại tặng hàng ngay này không bị ghi giảm tương ứng với giá trị hợp lý của hàng được tặng.

Kiến nghị: Kế toán sẽ ghi nhận giá trị hàng khuyến mại này vào thu nhập khác (TK 711). Doanh thu hàng bán có khuyến mại này được ghi nhận bình thường.

  1. Ghi nhận doanh thu bất động sản

Theo TT200, đối với các công trình, hạng mục công trình mà DN là chủ đầu tư (kể cả các công trình, hạng mục công trình mà DN vừa là chủ đầu tư, vừa tự thi công), DNkhông được ghi nhận doanh thu bán BĐS theo chuẩn mực kế toán số 15 và không được ghi nhận doanh thu đối với số tiền thu trước của khách hàng theo tiến độ.

Nếu trước đây, theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC, các DN bất động sản được phép ghi nhận doanh thu đối với số tiền thu trước của khách hàng theo tiến độ. Thì hiện nay, theo TT200 quy định các DN bất động sản chỉ được ghi nhận doanh thu khi bất động sản đã hoàn thành toàn bộ và bàn giao cho người mua.

Về bản chất, việc thay đổi cách thức ghi nhận doanh thu như trên sẽ không làm thay đổi dòng tiền hoạt động của Cty trong kỳ. Tuy nhiên, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh trong kỳ của các DN.

Đối với các đơn vị chuyên xây dựng chung cư, nhà văn phòng để bán và cho thuê, chu kỳ sản phẩm dài, đặc biệt là các Cty đã thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán thì quy định này có thể dẫn tới một số Cty bị thua lỗ do không có doanh thu bán hàng hoặc doanh thu rất thấp, trong khi chi phí vẫn phát sinh. Điều này có tác động xấu, đối với giá trị cổ phiếu của Cty trên thị trường và ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn để thực hiện các dự án đầu tư.

Bên cạnh đó, do thời gian thi công dài, người mua phải thanh toán cho chủ đầu tư thành nhiều đợt theo tiến độ thi công. Việc ghi nhận doanh thu khi bất động sản đã hoàn thành toàn bộ và bàn giao cho người mua làm giảm số thuế phải nộp cho Nhà nước, giảm nguồn thu của Ngân sách Nhà nước do khoản tiền lãi phải nộp phát sinh do chậm nộp thuế. Do đó, một số Cty đã lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian ghi nhận số thuế phải nộp cho Nhà nước.

Kiến nghị: Tại ngày 31/12 hàng năm, kế toán căn cứ vào hợp đồng và số tiền khách hàng đã thanh toán theo từng giai đoạn phát sinh trong năm được quy định trong hợp đồng kết hợp với khối lượng nghiệm thu thực tế mà các nhà thầu đã thi công để ghi nhận doanh thu và giá vốn tương ứng trong năm.

Ví dụ: Cty bất động sản A đang thực hiện dự án xây dựng 1 tòa nhà chung cư để bán với quy mô 100 căn, diện tích mỗi căn đều là 80m2, giá bán là 1,2 tỷ/căn. Trong năm 2015, Cty A đã ký được hợp đồng bán chung cư cho 20 khách hàng. Theo quy định tại hợp đồng, các khách hàng sẽ phải thanh toán cho Cty A số tiền mua chung cư làm 3 đợt, trong vòng 3 năm (lần thanh toán cuối cùng là thời điểm bàn giao căn hộ). Trong năm 2015, Cty A đã nhận được khoản tiền từ các khách hàng của mình theo đúng thời gian ghi trong hợp đồng với tổng số tiền là 8 tỷ.

Đến thời điểm 31/12, Cty A và nhà thầu thi công B đã tiến hành nghiệm thu khối lượng dự án mà nhà thầu B đã hoàn thành trong năm 2015 là 30%, tương ứng với giá trị 30 tỷ. Chi phí khác của dự án là 4 tỷ.

Như vậy, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong năm 2015 là 8 tỷ.

Giá vốn tương ứng: (30 tỷ + 4 tỷ)/100 * 20 = 6,8 tỷ.

Trong bài viết này, chúng tôi chưa đề cập hết được những vấn đề còn bất cập xảy ra trong thực tế, khi áp dụng TT200/2014/TT- BTC. Nhưng với những nghiên cứu trên có thể giúp được các Nhà chính sách nhìn nhận và sửa đổi những bất cập nêu trên, để các DN áp dụng thông suốt được TT 200/2014/TT-BTC.

Th.s Nghiêm Xuân Dũng – TS. Đoàn Thị Dung

Theo Tạp chí Kế toán và Kiểm toán

Tài liệu tham khảo

  • TT 200/2014/TT-BTC
  • Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC và TT 244/2009/TT-BTC
  • Hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện 26 Chuẩn mực Kế toán
  • 1 số trang web:vacpa.org.vn/; cafef.vn; webketoan.vn/
  • Khảo sát thực tế tại Tập đoàn kinh tế Hoàng Hà, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam.

VAA

  • Luật Kế toán Việt Nam;
  • PGS.TS Đoàn Xuân Tiên, GT Nguyên lý Kế toán năm 2009, NXB Tài chính.

VAA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *