NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ TRONG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG ĐƯỜNG BỘ KHU VỰC MIỀN TRUNG

Tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất (CPSX) và giá thành sản phẩm (GTSP) là khâu quan trọng nhất, trong công tác hạch toán kế toán ở mọi doanh nghiệp (DN). Vì CPSX là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua những thông tin về CPSX và GTSP thì các nhà quản lí DN sẽ nắm được thông tin của từng hoạt động, từng sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN.

Qua khảo sát thực trạng về tổ chức công tác kế toán CPSX và GTSP tại các DN xây dựng đường bộ khu vực miền Trung cho thấy, ở mỗi DN khác nhau, do đặc thù riêng về quy mô vốn, đặc điểm tổ chức sản xuất, năng lực tài chính, năng lực thi công, trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán,… dẫn đến một số khác biệt trong tổ chức công tác kế toán CPSX và GTSP tại các DN này song đều đạt được các kết quả và tồn tại một số hạn chế nhất định.

Những ưu điểm đạt được
Nhìn chung, công tác kế toán đã được thực hiện đúng theo thể lệ pháp lệnh kế toán thống kê. Việc ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tương đối kịp thời, liên tục và đầy đủ.
Cụ thể:
Thứ nhất, các DN đã phân loại và tập hợp CPSX kinh doanh mục tiêu, công dụng của chi phí và theo nội dung kinh tế của chi phí. Điều đó đã phục vụ tích cực và thỏa mãn yêu cầu quản lý CPSX theo định mức, theo dự toán chi phí, tăng cường công tác kiểm tra và tiết kiệm học phí. Đồng thời, thực hiện tương đối tốt hạch toán kinh doanh, cung cấp số liệu tương đối tin cậy cho công tác tính GTSP của DN.

Thứ hai, đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành được quyết định tương đối phù hợp với đặc điể kinh doanh và yêu cầu quản lý cho các DN chọn được phương án giá thành hợp lý, đơn giản, tăng cường được công tác kiểm tra, giám sát CPSX và quản lý GTSP.
Thứ ba, các DN mở sổ kế toán theo dõi chi tiết tập hợp CPSX và tính GTSP theo từng công trình, từng đơn đặt hàng đã cho phép có thể đánh giá tình hình thực hiện định mức chi phí, dự toán chi phí, cũng như giá thành của từng công trình, hạng mục công trình, đồng thời cho biết sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn của từng công trình đã hợp lý hay chưa, để các nhà quản lý DN có các biện pháp quản lý giá thành hợp lý và tạo điều kiện cho công tác quan lý, kế toán CPSX và GTSP thực hiện tốt hơn,…
Bên cạnh những ưu điểm đạt được ở trên, việc tổ chức công tác kế toán CPSX và GTSP của các DN xây dựng đường bộ khu vực miền Trung còn tồn tại một số hạn chế về tổ chức hạch toán ban đầu và xử lý chứng từ kế toán, cần được nghiên cứu và giải quyết nhằm phát huy vai trò, tầm quan trọng và hiệu quả của công tác kế toán trong DN.

Những hạn chế còn tồn tại

Thứ nhất, về tổ chức chứng từ kế toán qua khảo sát, hầu hết các DN xây dựng đường bộ khu vực miền Trung tập hợp chứng từ còn chậm thường dồn vào cuối tháng, do công trình mỏ ở vùng sâu, vùng xa không trang bị được thiết bị cũng như khó khăn trong việc bố trí kế toán. Việc lưu giữ chứng từ kế toán trong thời gian đợi thanh toán thường bị thất lạc, mất mát hơn nữa do không có nghiệp vụ nên việc xử lý chứng từ thường muộn và không được tổ chức phát hành hoá đơn xử lý kịp thời. Về luân chuyển chứng từ, hiện nay các DN hoạt động trong lĩnh vực xây dựng công trình đường bộ gặp rất nhiều khó khăn trong cung cấp thông tin nhanh chóng, kịp thời và đầy đủ. Khó khăn trong việc luân chuyển chứng từ từ địa điểm thi công đến văn phòng kế toán rất chậm, không kịp thời.

Thứ hai, về tổ chức tài khoản kế toán: Cách mở tài khoản chi tiết của các tài khoản tập hợp CPSX và tính GTSP chưa hợp lý, để phục vụ cho việc hạch toán cũng như quản lý CPSX và GTSP được chính xác.

Thứ ba, về tổ chức nội dung kế toán chi phí và tính GTSP
– Chi phí nguyên vật liệu: Đây là yếu tố mang tỷ trọng lớn trong việc hoàn thành các công trình xây dựng, vật tư cung cấp với số lượng lớn dưới hình thức khoán gọn cho các đội. Mặt khác, công ty chưa quan tâm đúng mức việc quản lý sản phẩm dư thừa. Có những công trình ở xa công ty thì việc thu mua NVL được chuyển thẳng tới công trình mà không qua kho. Điều này tạo ra sự lỏng lẻo trong quản lý các khoản chi phí, giúp mưu lợi cá nhân. Việc tổ chức quản lý các loại vật tư, nhiên liệu không được tốt, việc sử dụng chưa được tiết kiệm và sử dụng một cách có hiệu quả.
– Chi phí nhân công trực tiếp: Công nhân trực tiếp thi công công trình không chỉ là công nhân trong DN mà còn có công nhân thuê ngoài. Việc đi thuê ngoài này chỉ dựa vào chứng từ thuê ngoài phải trả, thông qua biên nhận và chữ ký của công nhân nên việc trả lương có thể có gian lận. Các DN xây dựng đường bộ chưa trích trước tiền lương nghi phép cho công nhân trực tiếp sản xuất.
– Chi phí sử dụng máy thi công: Các DN xây dựng đường bộ vẫn chưa tiến hành trích trước chi phí sửa chữa lớn, bảo trì máy thi công. Việc quản lý hiệu quả thời gian sử dụng máy chưa đạt hiệu qua cao, công tác kiểm tra bảo dưỡng máy thi công rất ít nên máy móc thường bị hư hỏng, một số máy móc xuống cấp nên tiệu hao lượng nhiên liệu lớn.
– CPSX chung: CPSX chung trong các DN xây dựng đường bộ chủ yếu là phân bổ chi phí thăm dò và các chi phí trả trước trong giai đoạn thăm dò, trong đó có tỷ trọng chi phí của đền bù giải phóng mặt bằng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tuy nhiên, khi tác giả kiểm tra chứng từ đền bù giải phóng mặt bằng thì sai sót tương đối lớn, tập hợp không đầy đủ bộ chứng từ do vậy, nhiều công ty khi tiến hành thanh tra thuế đã bị gạt phần chi phí thực tế này khỏi chi phí hợp lý do chứng từ sai sót.

Thứ tư, về tổ chức kế toán giá thành: Các DN xây dựng đường bộ đang áp dụng phương pháp trực tiếp để tính GTSP cho các công trình, hạng mục công trình hoàn thành và kỳ tính giá thành vào cuối quý. Song trên thực tế, ngoài việc nhận thi công các công trình mới, DN còn thực hiện nhiều hợp đồng cải tạo, nâng cấp các công trình, hạng mục công trình với thời gian thi công ngắn, chủ đầu tư thường nghiệm thu thanh toán khi công trình hoàn thành. Vì vậy, việc sử dụng phương pháp trực tiếp để tính giá sẽ không chặt chẽ và hợp đồng đã hoàn thành, nhưng phải đợi đến cuối quý mới tính giá thành nên không đáp ứng kịp thời số liệu cho công tác quản lý.

Thứ năm, về tổ chức bộ máy kế toán: Nói chung các DN xây dựng đường bộ khu vực miền Trung tổ chức bộ máy kế toán chưa khoa học, hợp lý. Phân bổ các nhân viên kế toán nói chung chưa hợp lý, công việc phân bố không đồng đều và công bằng. Một số DN xây dựng đường bộ có quy mô nhỏ, kế toán chi phí và tính giá thành chỉ bố trí một nhân viện kế toán, như vậy là công việc quá nặng lên kế toán này làm giảm độ chính xác cũng như việc cung cấp thông tin chậm chạp.

Thứ sáu, về công tác kế toán quản trị: Tổ chức kế toán quản trị chưa quan tâm đúng mực đến việc lập dự toán và định mức các khoản mục chi phí dẫn đến mất tính chủ động trong kế hạch sản xuất, thiếu mới mua. Như vậy, sẽ chịu tác động lớn của giá cả thị trường cũng như lãng phí chi phí nhân công cho quán trình mua sắm này.
– Về phân loại chi phí: Tại các DNXD đường bộ, chủ yếu sử dụng cách xác định và phân loại chi phí theo mục đích và công dụng chi phí. Đây là cách phân loại sử dụng chủ yếu trong KTTC. Còn đối với cách phân loại chi phí theo yêu cầu của KTQT như: Phân loại chi phí theo cách ứng xử (biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp), phân loại chi phí thành chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp, chi phí kiểm soát được, chi phí không kiểm soát được hay chi phí cơ hội, chi phí chìm đều chưa được thực hiện.
– Về kiểm soát chi phí:
Về quản lý định mức tiêu hao: Do trong quá trình thi công DN và các tổ, đội thi công chưa có sự quản lý chặt chẽ về định mức tiêu hao của vật liệu, nhân công, ca máy thi công,… Cho nên, khi có hạng mục công trình hoàn thành bàn giao bắt buộc DN phải xuất hóa đơn GTGT ghi nhận doanh thu và xác định giá vốn của các hạng mục đó.
Về khâu quản lý đơn giá cũng còn nhiều bất cập, do xảy ra tình trạng thừa hoặc thiếu định mức tiêu hao như đã nói ở trên, nên các tổ, đội thi công thường tìm cách ghi nhận giá vật liệu, thuê nhân công, ca máy thấp hoặc cao hơn so với giá thực tế, để khống chế theo giá trị trúng thầu. Điều này tạo ra khó khăn, trong giải trình đơn giá khi quyết toán công trình nhất là các công trình chỉ định thầu.
– Về xây dựng, quản lý và sử dụng định mức, dự toán: Hiện nay, KTQT CPSX tại các DNXD đường bộ khu vực miền Trung, mới chỉ dừng lại ở chức năng cung cấp thông tin đã được thực hiện, mà chưa phục vụ cho việc kiểm tra tình hình tuân thủ các định mức kinh tế kĩ thuật và các dự toán SXKD. Thực tế, các công ty đã quan tâm đến việc xây dựng và sử dụng hệ thống định mức, cũng như dự toán chi phí vào trong công tác quản lý chi phí của DN, thông qua việc hầu hết các DN lập dự toán theo đúng quy định và chế độ. Tuy nhiên, đó thường là tổng dự toán toàn bộ chi phí, cho nên công tác xây dựng, quản lý và sử dụng định mức, dự toán chi phí hiện nay tại các DN xây dựng đường bộ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị DN và thường chỉ đáp ứng được mục tiêu kiểm soát chi phí, và chưa đáp ứng được mục tiêu đánh giá mục tiêu của các bộ phận trong tổ chức hay ra quyết định của nhà quản trị DN.
– Về việc xử lý hệ thống hóa thông tin thực hiện: Hầu hết, các DNXD đường bộ chưa được thiết kế theo mẫu số kế toán phục vụ cho việc xử ký thông tin theo yêu cầu của quản trị chi phí và GTSP, hệ thống sổ kế toán được thiết kế mới, đáp ứng được phần nào yêu cầu quản lý chi phí và giá thành mà chưa thiết kế được các sổ sách, phục vụ cho việc kiểm soát đánh giá trách nhiệm của các bộ phận.
– Việc tổ chức phân tích thông tin: Hầu hết, các DNXD đường bộ chưa chủ động trong việc tổ chức và thực hiện KTQT phục vụ cho yêu cầu quản trị. Công tác phân tích chi phí và giá thành chưa được quan tâm đúng mức, mà chỉ thực hiện so sánh giản đơn để đánh giá sự biến động của chi phí. Chưa khai thác kỹ thuật phân tích chi phí KTQT và phân tích kinh tế để đánh giá, lựa chọn các phương án kinh doanh hiệu quả như: Phân tích thông tin quá khứ, thông tin tương lai, dự báo, phân tích các báo cáo chi phí theo từng bộ phận sản xuất, phân tích sự biến động chi phí, phân tích mỗi quan hệ giữa chi phí – khối lượng – lợi nhuận, lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định.
– Việc thiết lập hệ thống báo cáo KTQT: Hiện nay, tại hầu hết các DNXD đường bộ, báo cáo các kế toán trong nội bộ các DN chưa được thiết lập một cách đầy đủ để phục vụ cho yêu cầu quản lý. Những báo cáo này được lập chủ yếu do tự phát, thiếu đồng bộ.

Nguyên nhân của nhưng tồn tại
Thứ nhất, chế độ kế toán hiện nay đã được cải cách cơ bản, nhưng Chính phủ chưa ban hành và tạo dựng môi trường pháp lý về kế toán quản trị, cũng như việc ban hành các bản hướng dẫn cho DN. Hệ thống kế toán mang tính hỗn hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, chưa có sự hướng dẫn vận dụng kế toán quản trị khiến cho các DN không biết thực hiện tổ chúc kế toán quản trị tại đơn vị mình.

Thứ hai, tại các DN xây dựng đường bộ khu vực miền Trung, chưa tự xây dựng được một hệ thống kiểm soát chi phí đủ mạnh, để có thể kiểm soát được các CPSX thực tế phát sinh tại các tổ, đội trực tiếp sản xuất.

Thứ ba, các DN chưa nhận thức được tầm quan trọng của kế toán quản trị trong việc thu nhập, xử lý và cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra các quyết định kinh tế cho từng loại hoạt động, từng phương án SXKD cụ thể, nên chưa vận dụng và thực hiện kế toán quản trị một cách khoa học và hợp lý, chưa nắm bắt được nội dung cơ bản về tổ chức kế toán quản trị nói chung và CPSX nói riêng.

Thứ tư, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật trong quản lý kinh tế tài chính, trong kế toán của một số cán bộ chưa được nâng cao. Trình độ và năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ kế toán chưa đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới.
Thứ năm, về huy động và giải ngân vốn đầu tư: Do có nhiều biến động về lãi suất vốn vay và hạn chế tín dụng cho vay vốn của các tổ chức tín dụng,… nên việc đáp ứng đủ vốn và giải ngân vón gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tiến độ thi công công trình.

Tóm lại, tổ chức công tác kế toán CPSX và tính GTSP trong các DN xây dựng đường bộ khu vực miền Trung, còn mang nặng tính hình thức, mới chỉ đáp ứng nhu cầu về số liệu cho báo cáo tài chính. Các số liệu kế toán cung cấp chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thông tin kịp thời, đầy đủ và chi tiết trong quản trị chi phí và giá thành của DN. Điều này đã hạn chế rất lớn đến vị trí, vai trò của công tác kế toán nói chung, chưa thực sự trở thành công cụ hữu ích cho các nhà quản lý. Việc hạch toán CPSX và tính GTSP chưa phát huy được vai trò của mình, trong việc phân tích các hoạt động của các DN xây dựng đường bộ vào việc sử dụng hiệu quả nguồn lực, việc xây dựng các phương án, lựa chọn phương án.

Từ thực tiễn tổ chức công tác kế toán CPSX và GTSP của DN xây dựng đường bộ khu vực miền Trung, trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình thực tế, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại. Đây là nền tảng để đưa ra những đề xuất, nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán CPSX và GTSP của DN xây dựng đường bộ khu vực miền Trung. Để kế toán thực sự trở thành công cụ quan trọng, giúp Nhà nước thực hiện quản lý và kiểm soát CPSX và GTSP. Đồng thời, là công cụ tính toán kinh tế, bảo vệ và thúc đẩu sản xuất kinh doanh của DN có hiệu quả./.

Tài liệu tham khảo

1. Lưu Đức Tuyên, Ngô Thị Thu Hồng (2011), Giáo trình Tổ chức công tác kế toán trong DN, NXB Tài chính.
2. Nguyễn Đình Đỗ, Nguyễn Trọng Cơ (2003), Kế toán và phân tích hoạt động kinh tế trong DN xây lắp, NXB xây dựng.
3. Võ Văn Nhị (2008), Kế toán DN xây lắp, NXB Giao thông vận tải
4. Đoàn Xuân Tiên (2007), Giáo trình kế toán quản trị, NXB Tài chính.
5. Đinh Văn Khiên, Nguyễn Văn Các (2009), Giáo trình Kinh tế xây dựng, NXB Xây dựng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *